Thực tế cho thấy, những năm qua, số lượng doanh nghiệp và hộ kinh doanh ngừng hoạt động nhưng chưa thực hiện quyết toán thuế hoặc các thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế (MST) với cơ quan thuế có xu hướng gia tăng.
Nguy cơ từ mã số thuế "ảo"
Trong số này, có không ít doanh nghiệp, hộ kinh doanh chưa nắm rõ quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh và nghĩa vụ thuế. Khi hoạt động kinh doanh không thuận lợi hoặc có nhu cầu chuyển đổi ngành nghề, thay vì thực hiện đầy đủ thủ tục, họ bỏ mặc doanh nghiệp, giữ nguyên MST, thông báo tạm ngừng kinh doanh hoặc thậm chí không thông báo. Sau đó, một số trường hợp tiếp tục thành lập doanh nghiệp, hộ kinh doanh mới với MST khác, trong khi MST cũ vẫn tồn tại trên hệ thống quản lý thuế.
Bên cạnh nhóm người nộp thuế thiếu hiểu biết pháp luật, cũng có những trường hợp cố tình lợi dụng cơ chế thông thoáng trong đăng ký kinh doanh để trốn tránh nghĩa vụ thuế. Một số đối tượng đăng ký thành lập doanh nghiệp, hộ kinh doanh rồi bỏ địa chỉ kinh doanh đã đăng ký nhằm né tránh sự quản lý của cơ quan thuế; thậm chí thành lập doanh nghiệp "ma", không hoạt động sản xuất, kinh doanh thực tế mà sử dụng để mua bán hóa đơn, thu lợi bất chính.
Tình trạng này không chỉ gây khó khăn cho cơ quan thuế trong quản lý người nộp thuế mà còn tiềm ẩn nguy cơ hình thành các đường dây, chuỗi giao dịch nhằm trốn thuế giữa nhiều người nộp thuế, gắn với việc sử dụng hóa đơn, chứng từ bất hợp pháp. Qua đó, ảnh hưởng đến những người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật, làm méo mó môi trường đầu tư, kinh doanh và gây thất thu ngân sách nhà nước.

Làm sạch dữ liệu mã số thuế là nền tảng cốt lõi để nâng cao chất lượng quản lý, hướng tới phục vụ tốt hơn cho người dân và cộng đồng doanh nghiệp
Chiến dịch đồng bộ, quyết liệt trên toàn quốc
Để xử lý dứt điểm tình trạng doanh nghiệp, hộ kinh doanh ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế (MST), ngày 8/5/2026, Cục trưởng Cục Thuế ban hành Quyết định số 595/QĐ-CT về "Chiến dịch Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh".
Tiếp đó, ngày 3/7/2026, Bộ Tài chính ban hành Công văn số 9409/BTC-CT gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc phối hợp triển khai chiến dịch.
Chiến dịch được triển khai đồng bộ với sự phối hợp giữa cơ quan thuế, chính quyền địa phương, cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan công an, cơ quan hải quan và các đơn vị liên quan, nhằm chuẩn hóa dữ liệu MST, nâng cao hiệu quả quản lý thuế và phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn.
Theo Quyết định số 595/QĐ-CT, Cục Thuế đã đề ra mục tiêu, quan điểm chỉ đạo và thành lập Ban Chỉ đạo triển khai chiến dịch thống nhất trong toàn ngành, từ Cục Thuế đến cơ quan thuế tỉnh, thành phố và thuế cơ sở. Quyết định cũng xác định rõ các nhóm đối tượng trọng tâm, nguyên tắc phân loại và quy trình xử lý.
Ba nhóm đối tượng trọng tâm gồm:
Nhóm 1: Người nộp thuế (NNT) ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực MST.
Nhóm 2: NNT không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Nhóm 3: Cá nhân bị lấy cắp hoặc giả mạo thông tin để thành lập doanh nghiệp, hộ kinh doanh hoặc pháp nhân không phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh thực tế.
Quy trình xử lý được thống nhất theo các bước: Cục Thuế giao danh sách; cơ quan thuế tỉnh, thành phố tiếp nhận, phân công; phân nhóm; rà soát pháp lý; phân luồng xử lý; thực hiện quy trình nghiệp vụ tương ứng; cập nhật kết quả và kiểm đếm đầu ra.
Vướng mắc trong quá trình xử lý
Thời gian qua, cơ quan thuế địa phương đã khẩn trương thông báo đến NNT về việc chấm dứt hiệu lực MST hoặc khôi phục MST theo thời hạn quy định. Thông tin về cán bộ và cơ quan thuế thụ lý hồ sơ cũng được công khai, tạo điều kiện để doanh nghiệp, hộ và cá nhân kinh doanh thực hiện thủ tục.
Tuy nhiên, quá trình triển khai phát sinh một số vướng mắc đối với nhóm NNT không am hiểu pháp luật và không có dấu hiệu cố tình vi phạm.
Đó là các doanh nghiệp, hộ kinh doanh được thành lập nhưng chưa phát sinh hoạt động kinh doanh, chưa đăng ký sử dụng hóa đơn; hoặc đã thông báo tạm ngừng hoạt động nhưng sau đó không phát sinh doanh thu, chi phí. Thời gian ngừng hoạt động trong nhiều trường hợp kéo dài 5 năm, 10 năm, thậm chí 20 năm nhưng chưa thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực MST. Các trường hợp này thuộc Nhóm 1 theo Quyết định số 595/QĐ-CT.
Vướng mắc lớn nhất hiện nay là việc xác định nghĩa vụ thuế, tiền chậm nộp và xử lý vi phạm đối với các trường hợp này.
Theo quy định của Luật Quản lý thuế, NNT có trách nhiệm tự khai, tự nộp, tự quyết toán thuế và thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực MST khi không còn hoạt động sản xuất, kinh doanh. Do đó, việc không hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực MST là hành vi vi phạm quy định; trong một số trường hợp, NNT có thể còn phát sinh nghĩa vụ thuế từ thời gian trước khi ngừng hoạt động.
Bất cập về tiền chậm nộp và lệ phí môn bài
Theo quy định của Luật Quản lý thuế, đối với trường hợp chậm nộp tiền thuế, tiền chậm nộp được tính theo thời gian quy định của pháp luật, với mức 0,03%/ngày áp dụng từ ngày 1/7/2016 đến nay; trước đó là 0,05%/ngày, tùy thời kỳ.
Bên cạnh việc thu thuế và tiền chậm nộp, khi xử lý các trường hợp ngừng hoạt động, cơ quan thuế đang thực hiện truy thu lệ phí môn bài từ thời điểm ngừng hoạt động đến năm 2025 và tiền chậm nộp lệ phí môn bài. Từ ngày 1/1/2026, NNT không phải nộp lệ phí môn bài theo Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội. Cơ quan thuế đồng thời xử phạt hành vi không nộp hồ sơ khai thuế GTGT, TNDN... trong thời gian NNT không hoạt động, không phát sinh doanh thu.
Tuy nhiên, việc áp dụng cách xử lý vi phạm đối với NNT đã ngừng kinh doanh tương tự doanh nghiệp, hộ kinh doanh đang hoạt động có thể chưa phù hợp với bản chất của hành vi và thực tiễn, gây khó khăn cho cả NNT và cơ quan thuế trong quá trình làm sạch MST.
Một trường hợp thực tế cho thấy rõ vấn đề này: doanh nghiệp chấm dứt hoạt động từ năm 2013 nhưng đến tháng 8/2026 mới làm thủ tục chấm dứt hiệu lực MST. Tổng số tiền được thông báo phải nộp để hoàn tất thủ tục gồm 11,5 triệu đồng tiền phạt chậm nộp tờ khai thuế GTGT; 11,5 triệu đồng tiền phạt chậm nộp tờ khai thuế TNDN; 22 triệu đồng lệ phí môn bài từ năm 2013 đến năm 2025 và 16 triệu đồng tiền chậm nộp tính cho từng năm. Tổng cộng là 61 triệu đồng.
Đề xuất giải pháp phân loại, xử lý
Từ thực tế trên, cần phân loại rõ từng nhóm NNT để có biện pháp xử lý phù hợp.
Đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng, cần xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng chính sách thông thoáng để thành lập doanh nghiệp "ma", mua bán hóa đơn nhằm trục lợi, không hoạt động tại địa chỉ đăng ký để trốn thuế hoặc lấy cắp, giả mạo thông tin của người khác để thành lập doanh nghiệp, hộ kinh doanh phục vụ hoạt động phi pháp.
Đối với trường hợp ngừng hoạt động nhưng chưa chấm dứt hiệu lực MST do thiếu hiểu biết hoặc "bỏ quên", nếu NNT thực tế không hoạt động sản xuất, kinh doanh, không phát sinh doanh thu, chi phí và không nợ thuế, có thể nghiên cứu không truy thu lệ phí môn bài và tiền chậm nộp, đồng thời không xử phạt hành vi chậm nộp các hồ sơ khai thuế phát sinh trong thời gian không hoạt động. Thay vào đó, chỉ xử phạt đối với hành vi không thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực MST.
Đối với số thuế còn nợ NSNN phát sinh trước thời điểm ngừng hoạt động, trường hợp không có hành vi gian lận về doanh thu, chi phí hoặc hóa đơn, chứng từ nhằm trốn thuế, cần nghiên cứu phân loại theo từng loại thuế và thời gian nợ để thu đủ tiền thuế gốc. Đồng thời, có thể xem xét việc tính tiền chậm nộp trong thời gian không quá 5 năm nhằm tạo điều kiện để NNT sớm hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực MST.
Với sự chỉ đạo của Bộ Tài chính, sự vào cuộc của Cục Thuế và cơ quan thuế địa phương, cùng việc kịp thời nghiên cứu, tháo gỡ các vướng mắc phát sinh, Chiến dịch "Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh" được kỳ vọng sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình chuẩn hóa dữ liệu NNT, nâng cao hiệu quả quản lý thuế và hỗ trợ người dân, doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ với NSNN theo quy định pháp luật.