Đường dây nóng: 0865.542.368

"Nghị quyết 68 - Một năm nhìn lại từ tư duy đến thực tiễn"

"Nghị quyết 68 - Một năm nhìn lại từ tư duy đến thực tiễn"
Sau một năm đi vào thực tiễn, Nghị quyết 68-NQ/TW đã tạo ra cuộc cách mạng về tư duy quản trị nhằm tháo gỡ rào cản hành chính và giải phóng nội lực cho nền kinh tế. Điểm nhấn của cải cách này là sự chuyển dịch quyết liệt từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đi kèm cam kết không hình sự hóa các quan hệ kinh tế bảo vệ quyền tự do kinh doanh.

Tuy nhiên, giữa những con số tăng trưởng đầy triển vọng và bức tranh thực tế của cộng đồng doanh nghiệp vẫn còn đó những khoảng trống cần được lấp đầy. Một năm là đủ để chúng ta nhìn nhận thẳng thắn: Liệu những nỗ lực cải cách trên văn bản đã thực sự thẩm thấu thành dòng vốn, thành niềm tin và thành động lực tăng trưởng thực chất hay chưa? Để giải đáp những góc khuất này, Tiến sĩ Kinh tế Lê Bá Chí Nhân đã có những chia sâu sát vào các vấn đề trọng tâm mà doanh nghiệp và dư luận đang quan tâm.

"Nghị quyết 68 - Một năm nhìn lại từ tư duy đến thực tiễn"

Tiến sĩ Kinh tế Lê Bá Chí Nhân nhận định điểm nghẽn của Nghị quyết 68 không nằm ở chủ trương mà ở "khâu chuyển hóa" xuống hành động thực tế.

PV: Thưa ông, dù số doanh nghiệp mới năm 2025 tăng mạnh 27,4%, tỷ trọng đầu tư tư nhân lại giảm sâu từ 91% xuống còn 67%. Ông đánh giá thế nào về sự "lệch pha" này và giải pháp nào để chuyển hóa niềm tin đăng ký thành dòng vốn thực tế vào sản xuất?

Tiến sĩ Kinh tế Lê Bá Chí Nhân: Sau 1 năm triển khai Nghị quyết 68, việc số doanh nghiệp thành lập mới và quay lại hoạt động tăng mạnh là một tín hiệu rất tích cực, cho thấy niềm tin thị trường đã được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, hiện tượng “lệch pha” giữa số lượng doanh nghiệp tăng và tỷ trọng đầu tư tư nhân trong tổng đầu tư xã hội giảm từ khoảng 91% xuống còn 67% phản ánh một thực tế sâu hơn: niềm tin về môi trường kinh doanh đã phục hồi, nhưng năng lực và động lực mở rộng đầu tư thực chất vẫn còn bị cản trở.

Nói cách khác, nhiều doanh nghiệp hiện nay quay lại thị trường với tâm thế “giữ chỗ”, thăm dò cơ hội hoặc duy trì hoạt động cầm chừng, thay vì mạnh dạn bỏ vốn lớn để mở rộng sản xuất. Điều này xuất phát từ ba nguyên nhân chính.

Thứ nhất, tổng cầu trong nước và quốc tế phục hồi chưa đồng đều, khiến doanh nghiệp e ngại rủi ro đầu ra. Trong bối cảnh còn yếu và thị trường xuất khẩu biến động, khu vực tư nhân có xu hướng ưu tiên phòng thủ dòng tiền hơn là đầu tư dài hạn.

Thứ hai, chi phí vốn dù đã hạ nhiệt nhưng khả năng tiếp cận tín dụng thực tế vẫn chưa dễ dàng, đặc biệt với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhiều doanh nghiệp có đăng ký hoạt động nhưng không đủ tài sản đảm bảo hoặc thiếu dòng tiền ổn định để vay vốn mở rộng.

Thứ ba, rào cản thể chế và thủ tục hành chính vẫn là điểm nghẽn lớn. Doanh nghiệp hiện không thiếu ý tưởng kinh doanh, cái họ thiếu là sự chắc chắn về môi trường pháp lý, tiến độ phê duyệt đầu tư, đất đai, quy hoạch và tính ổn định của chính sách.

Do đó, để chuyển hóa “niềm tin đăng ký” thành “dòng vốn đầu tư thực”, trọng tâm không chỉ là hỗ trợ thành lập doanh nghiệp mà phải tạo ra môi trường đầu tư có khả năng sinh lời và được. Nhà nước cần đẩy nhanh cải cách thủ tục, giảm chi phí tuân thủ, bảo đảm tính nhất quán chính sách và đặc biệt là khơi thông các thị trường đầu vào quan trọng như đất đai, vốn, năng lượng và logistics.

Quan trọng hơn, cần hình thành một hệ sinh thái mà ở đó doanh nghiệp tư nhân nhìn thấy cơ hội tăng trưởng dài hạn, thay vì chỉ tồn tại ngắn hạn. Khi doanh nghiệp có niềm tin rằng đầu tư hôm nay sẽ được bảo vệ và có khả năng sinh lời trong 5–10 năm tới, dòng vốn tư nhân sẽ quay trở lại mạnh mẽ và bền vững hơn.

Trong bối cảnh Nghị quyết 68 đẩy mạnh "hậu kiểm", làm thế nào để tháo gỡ rào cản 75,5% doanh nghiệp không thể vay vốn vì thiếu tài sản thế chấp? Giải pháp nào để các định chế tài chính chấp nhận cho vay tín chấp dựa trên tương lai dự án thay vì quá khứ tài sản, thưa ông?

Thực tế hiện nay cho thấy một nghịch lý rất lớn của nền kinh tế Việt Nam: khu vực doanh nghiệp tư nhân đóng góp phần lớn việc làm và tăng trưởng, nhưng lại khó tiếp cận vốn nhất. Khi 75,5% doanh nghiệp không thể vay nếu thiếu tài sản bảo đảm, điều đó phản ánh mô hình tín dụng của chúng ta vẫn đang vận hành chủ yếu theo tư duy “cầm cố tài sản”, thay vì đánh giá hiệu quả kinh doanh và dòng tiền tương lai.

Trong bối cảnh Nghị quyết 68 thúc đẩy chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” và hạn chế hóa các quan hệ kinh tế, điều quan trọng là hệ thống tài chính – ngân hàng cũng phải thay đổi triết lý quản trị rủi ro tương ứng. Nếu môi trường kinh doanh đã chuyển sang khuyến khích đổi mới sáng tạo và chấp nhận rủi ro có kiểm soát, thì tín dụng cũng phải chuyển từ “cho vay dựa trên quá khứ tài sản” sang “cho vay dựa trên tương lai dự án”.

Muốn làm được điều đó, trước hết cần hoàn thiện hành lang pháp lý bảo vệ cán bộ tín dụng và tổ chức cho vay. Hiện nay, nhiều ngân hàng không dám cho vay tín chấp vì lo ngại rủi ro pháp lý khi dự án thất bại. Tâm lý “an toàn tuyệt đối” khiến tài sản thế chấp trở thành điều kiện gần như bắt buộc. Nếu không có cơ chế phân định rõ giữa rủi ro kinh doanh thông thường với hành vi cố ý vi phạm pháp luật, sẽ rất khó hình thành văn hóa cấp tín dụng dựa trên hiệu quả dự án.

Thứ hai, cần phát triển mạnh các hệ thống đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp, dữ liệu dòng tiền và chấm điểm tín dụng số. Ở nhiều quốc gia, ngân hàng có thể cho doanh nghiệp vay dựa trên lịch sử giao dịch, hóa đơn điện tử, dòng tiền tài khoản, hợp đồng tương lai và uy tín thuế. Đây là hướng đi Việt Nam cần thúc đẩy thông qua chuyển đổi số tài chính và kết nối dữ liệu giữa ngân hàng, thuế và doanh nghiệp.

Thứ ba, Nhà nước cần mở rộng vai trò của các quỹ bảo lãnh tín dụng và cơ chế rủi ro. Trong giai đoạn đầu, nếu toàn bộ rủi ro đều dồn lên ngân hàng thì rất khó thúc đẩy tín dụng tín chấp diện rộng. Nhà nước cần đóng vai trò “bà đỡ thể chế” để kích hoạt thị trường vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Về dài hạn, một nền kinh tế muốn đổi mới sáng tạo mạnh thì hệ thống tài chính phải chấp nhận tài trợ cho ý tưởng, công nghệ và mô hình kinh doanh, chứ không thể chỉ tài trợ cho tài sản hữu hình. Đây mới là chuyển đổi căn bản của tư duy phát triển kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới.

"Nghị quyết 68 - Một năm nhìn lại từ tư duy đến thực tiễn"

Tinh thần của Nghị quyết 68 yêu cầu một bộ máy hành chính phục vụ, nơi quyền tự do kinh doanh của người dân được bảo vệ tối đa.

Trước thực trạng hộ kinh doanh chia nhỏ quy mô để né quản lý, theo ông, chúng ta cần thay đổi tư duy thế nào để họ coi Nhà nước là đối tác đồng hành thay vì "đối tượng quản lý"? Làm sao để họ tự nguyện gia nhập khu vực chính thức, góp phần đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030?

Thực trạng nhiều hộ kinh doanh chia nhỏ quy mô, né ngưỡng doanh thu hoặc quay lại giao dịch tiền mặt cho thấy một vấn đề rất đáng suy nghĩ: khu vực kinh tế cá thể hiện chưa cảm nhận đầy đủ lợi ích của việc “đi vào chính thức”, trong khi lại nhìn thấy khá rõ chi phí và rủi ro của việc bị quản lý chặt hơn. Đây không đơn thuần là câu chuyện thuế hay thủ tục, mà là vấn đề niềm tin giữa Nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân nhỏ lẻ.

Nếu mục tiêu đến năm 2030 đạt 2 triệu doanh nghiệp chỉ được hiểu là gia tăng số lượng đăng ký kinh doanh, thì sẽ khó bền vững. Điều cốt lõi phải là tạo ra động lực để hộ kinh doanh tự nguyện chuyển đổi, bởi họ thấy rằng khi trở thành doanh nghiệp chính thức, họ được bảo vệ tốt hơn, tiếp cận vốn dễ hơn, mở rộng thị trường thuận lợi hơn và có cơ hội tăng trưởng dài hạn hơn.

Do đó, tư duy quản lý cần chuyển mạnh từ “kiểm soát” sang “đồng hành phát triển”. Nhà nước không nên tiếp cận hộ kinh doanh như một đối tượng có nguy cơ thất thu thuế, mà cần xem họ là những “doanh nghiệp tương lai” cần được hỗ trợ trưởng thành. Khi tâm lý chủ đạo vẫn là sợ bị thanh tra, kiểm tra, truy thu hay tăng chi phí tuân thủ, thì phản ứng tự nhiên của nhiều hộ kinh doanh sẽ là thu hẹp quy mô để tránh bị chú ý.

Muốn thay đổi điều này, trước hết cần xây dựng cơ chế chuyển đổi mềm. Ví dụ, hộ kinh doanh khi chuyển lên doanh nghiệp nên được hưởng giai đoạn “quá độ an toàn” trong 2–3 năm đầu với thủ tục kế toán đơn giản, ưu đãi thuế hợp lý, hạn chế thanh kiểm tra chồng chéo và được hỗ trợ pháp lý, quản trị, chuyển đổi số.

Bên cạnh đó, cần thay đổi cách thực thi chính sách ở cấp cơ sở. Nhiều khi chủ trương trung ương rất cởi mở nhưng cách triển khai địa phương vẫn nặng tính hành chính, khiến doanh nghiệp nhỏ cảm thấy bị “quản”. Một nền kinh tế hiện đại không thể vận hành bằng tâm lý đối phó giữa Nhà nước và người kinh doanh.

Về dài hạn, khu vực kinh tế chính thức chỉ phát triển mạnh khi người dân tin rằng minh bạch sẽ mang lại lợi ích lớn hơn chi phí. Khi Nhà nước đóng vai trò “đối tác kiến tạo” thay vì chỉ là “cơ quan giám sát”, hộ kinh doanh sẽ chủ động bước ra khỏi vùng phi chính thức để tham gia sâu hơn vào nền kinh tế hiện đại.

Thưa ông, điểm nghẽn lớn nhất của Nghị quyết 68 hiện nay là gì? Chúng ta cần làm gì ngay lúc này để "cuộc cách mạng thực thi" xóa bỏ khoảng cách với những cải cách trên mặt giấy?

Sau một năm triển khai Nghị quyết 68, theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất không còn nằm ở chủ trương hay định hướng chính sách, mà nằm ở “khâu chuyển hóa” từ tinh thần cải cách xuống hành động thực thi. Có thể nói, Việt Nam hiện không thiếu quyết tâm cải cách ở cấp chiến lược, điều khó nhất là làm sao để tinh thần đó được vận hành thống nhất trong toàn bộ hệ thống quản lý.

Nghị quyết 68 đưa ra nhiều tư duy rất tiến bộ như chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, khuyến khích đổi mới sáng tạo và coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế. Nhưng trên thực tế, nhiều doanh nghiệp vẫn phản ánh rằng họ chưa cảm nhận rõ sự thay đổi ở cấp thực thi. Điều này tạo ra khoảng cách giữa “cải cách trên giấy” và “trải nghiệm thực tế” của doanh nghiệp.

Vấn đề cốt lõi nằm ở tâm lý quản lý còn thiên về phòng ngừa rủi ro hơn là thúc đẩy phát triển. Không ít cán bộ thực thi hiện nay vẫn chọn cách làm an toàn cho mình, thay vì chủ động hỗ trợ doanh nghiệp. Khi cơ chế đánh giá cán bộ còn nặng về “không để xảy ra sai sót”, thì tâm lý né trách nhiệm, sợ quyết định và đùn đẩy thủ tục là điều khó tránh khỏi. Đây chính là điểm làm suy giảm hiệu quả của nhiều chính sách cải cách.

Do đó, tôi cho rằng cuộc cải cách lớn nhất hiện nay thực chất là cải cách tư duy thực thi. Nếu trước đây chúng ta nói nhiều về cải cách thể chế, thì giai đoạn tới cần tập trung vào xây dựng “thể chế thực thi”. Nghĩa là phải tạo ra một hệ thống mà trong đó cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm và được bảo vệ khi hành động đúng vì lợi ích chung.

Muốn vậy, cần thay đổi đồng thời ba yếu tố: cơ chế đánh giá cán bộ, cơ chế phân quyền và cơ chế bảo vệ người thực thi. Một nền hành chính hiện đại không thể vận hành hiệu quả nếu cán bộ luôn ở trong trạng thái sợ sai.

Cuối cùng, doanh nghiệp sẽ không đánh giá cải cách qua nghị quyết hay khẩu hiệu, mà qua thời gian xử lý hồ sơ, chi phí tuân thủ và cảm nhận khi làm việc với cơ quan công quyền. Khi người thực thi thực sự chuyển từ tư duy “quản lý” sang “phục vụ phát triển”, đó mới là cuộc cải cách có ý nghĩa quyết định đối với môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!

Cùng chuyên mục
Nổi bật trang chủ
Cần Thơ: Trạm trộn bê tông Hoàng Tấn Phát từ phục vụ dự án đến dấu hiệu kinh doanh đại trà

Đằng sau những phản ánh về ô nhiễm của Công ty CP Bê tông Hoàng Tấn Phát là nghi vấn về việc biến trạm trộn phục vụ nội bộ một dự án giao thông cụ thể thành cơ sở kinh doanh thương mại đại trà.

Đọc thêm
Cần Thơ: Trạm trộn bê tông Hoàng Tấn Phát từ phục vụ dự án đến dấu hiệu kinh doanh đại trà

Cần Thơ: Trạm trộn bê tông Hoàng Tấn Phát từ phục vụ dự án đến dấu hiệu kinh doanh đại trà

29 Tháng 05, 2026

Đằng sau những phản ánh về ô nhiễm của Công ty CP Bê tông Hoàng Tấn Phát là nghi vấn về việc biến trạm trộn...

Dịch bệnh Ebola tiếp tục diễn biến phức tạp

Dịch bệnh Ebola tiếp tục diễn biến phức tạp

29 Tháng 05, 2026

Bộ Y tế cho biết, bệnh Ebola do chủng Bundibugyo tại Cộng hòa Dân chủ Công Gô và Uganda đang tiếp tục diễn biến phức...

Vietnam Dairy 2026: Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao an toàn thực phẩm và minh bạch chuỗi giá trị

Vietnam Dairy 2026: Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao an toàn thực phẩm và minh bạch chuỗi giá trị

29 Tháng 05, 2026

Diễn ra từ ngày 28 đến 31/5/2026 tại Cung Văn hóa Hữu nghị, Hà Nội, chuỗi sự kiện gồm Triển lãm Quốc tế ngành Sữa...

Xăng sinh học E10: Không áp đặt hay hạn chế quyền lựa chọn của người tiêu dùng

Xăng sinh học E10: Không áp đặt hay hạn chế quyền lựa chọn của người tiêu dùng

29 Tháng 05, 2026

Theo Bộ Công Thương, việc triển khai xăng E10 không nhằm áp đặt hay hạn chế quyền lựa chọn mà hướng tới đảm bảo an...

Chính sách hỗ trợ tiền ăn, gạo, đồ dùng cá nhân cho học sinh trường phổ thông nội trú

Chính sách hỗ trợ tiền ăn, gạo, đồ dùng cá nhân cho học sinh trường phổ thông nội trú

29 Tháng 05, 2026

Chính phủ ban hành Nghị định 188/2026/NĐ-CP quy định chính sách cho học sinh trường phổ thông nội trú và trường phổ thông nội trú...

Trình tự, thủ tục thay đổi người đại diện của doanh nghiệp, HTX trong thủ tục phục hồi, phá sản

Trình tự, thủ tục thay đổi người đại diện của doanh nghiệp, HTX trong thủ tục phục hồi, phá sản

29 Tháng 05, 2026

Tại Nghị định số 187/2026/NĐ-CP, Chính phủ quy định chi tiết về trình tự, thủ tục thay đổi người đại diện của doanh nghiệp, hợp...

Giá nông sản hôm nay 29/5/2026: Cà phê đảo chiều giảm, hồ tiêu neo ở mức cao

Giá nông sản hôm nay 29/5/2026: Cà phê đảo chiều giảm, hồ tiêu neo ở mức cao

29 Tháng 05, 2026

Giá nông sản hôm nay (29/5), cà phê đồng loạt giảm 800 đồng/kg tại khu vực Tây Nguyên, đưa mặt bằng giá xuống còn 87.200...

Giá heo hơi hôm nay 29/5/2026: Tiếp tục giảm tại miền Bắc

Giá heo hơi hôm nay 29/5/2026: Tiếp tục giảm tại miền Bắc

29 Tháng 05, 2026

Giá heo hơi hôm nay (29/5) ổn định trên cả nước, tuy nhiên khu vực miền Bắc ghi nhận Bắc Ninh và Hưng Yên giảm...

Cập nhật giá xăng dầu hôm nay 29/5/2026: RON95 giữ ở mức 24.150 đ/lít

Cập nhật giá xăng dầu hôm nay 29/5/2026: RON95 giữ ở mức 24.150 đ/lít

29 Tháng 05, 2026

Giá xăng dầu hôm nay 29/5/2026 trong nướctiếp tục duy trì mức giá trong trong kỳ điều hành chiều 28/5, RON 95-III đang ở mức...

"Nghị quyết 68 - Một năm nhìn lại từ tư duy đến thực tiễn"

"Nghị quyết 68 - Một năm nhìn lại từ tư duy đến thực tiễn"

29 Tháng 05, 2026

Sau một năm đi vào thực tiễn, Nghị quyết 68-NQ/TW đã tạo ra cuộc cách mạng về tư duy quản trị nhằm tháo gỡ rào...

0.20708 sec| 2094.555 kb