Việc vượt 40 giờ/tháng có được coi là phần thời giờ làm thêm không phù hợp với quy định của pháp luật lao động không, mặc dù tổng số giờ làm thêm trong năm chưa vượt 200 giờ.
Về vấn đề này, Bộ Nội vụ trả lời như sau:
Điểm b và điểm c khoản 2 Điều 107 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi bảo đảm:
"b) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày không quá 40 giờ trong 01 tháng;
c) Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này".
Theo quy định nêu trên, giới hạn số giờ làm thêm không quá 40 giờ trong 1 tháng và không quá 200 giờ trong 1 năm là các điều kiện phải được bảo đảm đồng thời.
Do đó, trường hợp người lao động làm thêm 45 giờ trong 1 tháng thì vượt giới hạn số giờ làm thêm không quá 40 giờ trong 1 tháng theo điểm b khoản 2 Điều 107 Bộ luật Lao động năm 2019, không phụ thuộc vào việc tổng số giờ làm thêm trong năm chưa vượt quá 200 giờ.